Ung thư ở trẻ em – dấu hiệu, các phương pháp chẩn đoán và điều trị  


Tác giả: Dương Thị Nhung

Trường Đại học Nghiên cứu Quốc gia về Hạt nhân “MEPhI” (Liên bang Nga)

Mỗi năm trên thế giới có hơn 300.000 trẻ em được chẩn đoán là mắc ung thư. Và căn bệnh này được cho là nguyên nhân phổ biến nhất gây tử vong do bệnh tật của trẻ em tại Mỹ (1). Bệnh ung thư cũng như các bệnh thông thường khác, nếu như được chẩn đoán kịp thời dựa trên các dấu hiệu, cùng với việc kết hợp các phương pháp điều trị phù hợp thì tỷ lệ sống sót của trẻ là rất cao.

1. Những dấu hiệu ung thư ở trẻ em 

Các triệu chứng và biểu hiện của trẻ bị ung thư có thể được miêu tả bởi cụm từ “CHILD CANCER” (2): 

Continued – Liên tục giảm cân mà không rõ nguyên nhân.
Headaches – thường xuyên đau đầu và nôn mửa vào buổi sáng sớm.
Increased swelling- Tình trạng viêm mạn tính hay đau dai dẳng ở vị trí các khớp xương vùng lưng hoặc chân.
Lump – U bướu đặc biệt ở vùng bụng, cổ, ngực, xương chậu hay nách.
Development – Sự phát triển của quá nhiều vết thâm tím, chảy máu, hoặc phát ban.

Constant – Sự nhiễm trùng liên tục, thường xuyên, hoặc dai dẳng.
A whitish color – Một màu hơi trắng ở sau đồng tử của mắt.
Nausea – Tình trạng nôn, buồn nôn dai dẳng.
Constant – Trạng thái mệt mỏi, xanh xao.
Eye – Thị lực thay đổi đột ngột thường xuyên và dai dẳng.
Recurring or persistent– Sốt dai dẳng và định kỳ mà không rõ nguyên nhân.

Nếu trẻ có bất cứ sự thay đổi nào liên quan tới các dấu hiệu trên, hãy liên hệ với bác sĩ của con bạn. Bác sĩ sẽ hỏi về bệnh (mức độ kéo dài, mức thường xuyên) và thăm khám, từ đó sẽ đưa ra chẩn đoán kịp thời và đưa ra hướng điều trị đúng đắn.

2. Phương pháp chẩn đoán và thăm khám 

Đối với hầu hết các loại ung thư, sinh thiết (biopsy) là tiêu chuẩn vàng giúp các bác sĩ kết luận bệnh nhi có mắc ung thư hay không. Khi sinh thiết, bác sĩ sẽ lấy một mẫu mô nhỏ để kiểm tra. Trong trường hợp khối u nằm ở vị trí không thể sinh thiết hoặc có chống chỉ định, bác sĩ sẽ đề nghị một vài xét nghệm cận lâm sàng cho bệnh nhân. Khi lựa chọn các xét nghiệm để chẩn đoán bệnh, bác sĩ sẽ dựa vào các yếu tố sau:

- Loại ung thư nghi ngờ.

- Các dấu hiệu và triệu chứng ở trẻ.

- Tuổi và trạng thái sức khỏe của trẻ.

- Kết quả các lần xét nghiệm trước đó.

Ngoài việc khám sức khỏe tổng quát, các xét nghiệm dưới đây có thể được sử dụng để chẩn đoán ung thư ở trẻ em:

- Xét nghiệm máu: Các xét nghiệm máu định kỳ cho biết số lượng các loại tế bào máu khác nhau trong cơ thể. Khi số lượng một số loại tế bào quá cao hay quá thấp có thể gợi ý đến một số loại ung thư nhất định.
- Sinh thiết: là việc cắt một lượng mô nhỏ để kiểm tra dưới kính hiển vi. Các xét nghiệm khác thì có thể gợi ý sự hiện diện của ung thư, nhưng trừ một số loại u não, chỉ có sinh thiết mới có thể đưa ra được chẩn đoán chính xác.

- Chọc dò tủy xương và sinh thiết: vị trí thuờng áp dụng là vùng xương chậu 2 bên. Sau thủ thuật bác sĩ sẽ lấy phần tủy xương thu được phân tích và đọc kết quả ở phòng thí nghiệm.

- Chọc dò dịch tủy não: bác sĩ sử dụng một kim tiêm để lấy mẫu của dịch não tủy  vùng thắt lưng (CSF- cerebrospinal fluid) để tìm các tế bào ung thư, máu hoặc các marker khối u.

Thủ thuật chích thắt lưng để lấy dịch não tủy (Ảnh: Internet)

- Siêu âm: Sử dụng sóng âm để tạo ra hình ảnh của các cơ quan nội tạng.
- Chụp cắt lớp vi tính (CT hay CAT) hình ảnh ba chiều bên trong của cơ thể bằng việc sử dụng tia X được lấy từ các góc khác nhau. Sau đó máy tính sẽ kết hợp những hình ảnh thành mặt cắt ngang dạng chi tiết để biểu diễn bất kỳ sự bất thường nào hoặc khối u. Chụp CT có thể được sử dụng để xác định kích thước khối u.

- Chụp cộng hưởng từ (MRI): Sử dụng trường từ, không phải tia X, để cung cấp những hình ảnh chi tiết của cơ thể. Cộng hưởng từ cũng có thể được sử dụng để xác định kích thước của khối u. Một loại thuốc màu đặc biệt được gọi là thuốc cản quang được truyền vào cơ thể trước khi chụp để tạo ra một hình ảnh sắc nét. Chất màu này có thể được tiêm vào tĩnh mạch của bệnh nhân hoặc dưới dạng viên để uống.

- Chụp PET-Positron Emission Tomography (PET-CT): Chụp PET thường được kết hợp với chụp CT (xem ở trên), được gọi là PET-CT. Nguyên lý tạo hình của PET-CT tương tự như CT-scan. Nhưng trước khi CT-scan, một lượng nhỏ đường phóng xạ sẽ được tiêm vào cơ thể bệnh nhân.Lượng đường này sẽ được sử dụng bởi các tế bào sử dụng nhiều năng lượng nhất (tế bào ung thư), nên nó hấp thụ lượng phóng xạ nhiều hơn. Sau đó, một máy quét sẽ phát hiện ra hợp chất này để tạo những hình ảnh bên trong cơ thể.

- Chụp và nghiên cứu đồng vị phóng xạ: Một lượng chất nhỏ phóng xạ (được gọi là chất đánh dấu) được tiêm vào cơ thể và sau đó được theo dõi bởi một camera đặc biệt hoặc tia X để quan sát nơi mà hợp chất đi tới. Những sự nghiên cứu này có thể phát hiện những sự bất thường ở gan,não, xương, thận và những tổ chức khác.

Nhiều xét nghiệm này có thể được lặp lại trong và sau quá trình điều trị để xác định hiệu quả của việc điều trị (3).

3. Các phương pháp điều trị ung thư ở trẻ em

Việc lựa chọn phương pháp điều trị và các khuyến nghị phụ thuộc vào từng trẻ em, bao gồm có loại và giai đoạn ung thư, sự tương thích và sức khỏe tổng thể. Các phương pháp điều trị ung thư ở trẻ em có thể được liệt kê như sau:

- Phẫu thuật: việc loại bỏ một khối u (có thể là ung thư hoặc không phải là ung thư), kèm theo một số mô khỏe mạnh xung quanh khối u trong quá trình phẫu thuật. Ở nhiều trẻ, với một khối u, có thể phải phẫu thuật tại một số điểm như là một phần của quá trình điều trị. Mục đích của phẫu thuật là loại bỏ toàn bộ khối u và phần lề xung quanh khối u. Tuy nhiên, hầu hết ung thư ở trẻ em thường còn lại một lượng nhỏ các tế bào ung thư sau phẫu thuật. Để giải quyết triệt để, bác sĩ đưa ra các khuyến nghị kèm theo như hóa trị, xạ trị hay các phương pháp điều trị khác. Tác dụng phụ của phẫu thuật phụ thuộc vào vị trí, loại và tính chất khối u (di căn hay không di căn).

- Hóa trị: sử dụng thuốc để tiêu diệt hoặc ngăn chặn sự phát triển và phân chia của các tế bào ung thư. Các loại thuốc hóa trị cũng có thể làm co lại hoặc giới hạn kích thước của các khối u ung thư. Chúng cũng có thể giúp ngăn ngừa sự lây lan ung thư sang các bộ phận khác của cơ thể (5). Cách thông thường để áp dụng thuốc hóa trị là sử dụng ống tiêm tĩnh mạch IV (intravenous IV tube) đặt vào  vein, bắp, dịch tủy sống hoặc dưới da bằng cách tiêm hoặc có thể đi vào cơ thể thông qua đường tiêu hóa ở dạng viên nang. Chế độ và lịch trình hóa trị thường bao gồm một số chu kỳ trong một khoảng thời gian nhất định. Bệnh nhân có thể điều trị bằng một hoặc một vài loại thuốc xạ trị trong cùng một thời gian.

Thuốc hóa trị sử dụng ống tiêm tĩnh mạch loại 4

Các tác dụng phụ của hóa trị: phụ thuộc vào từng cá nhân và liều lượng đã sử dụng. Nhưng nhìn chung, các tác dụng phụ là mỏi mệt, nguy cơ nhiễm trùng, buồn nôn và nôn, rụng tóc, chán ăn và tiêu chảy. Những tác dụng phụ này sẽ biến mất sau khi điều trị xong.

- Xạ trị: sử dụng chùm tia X năng lượng cao hay các hạt tích điện (proton, electron..) để tiêu diệt các tế bào ung thư. Việc chọn mức năng lượng và loại chùm tia (X hay hạt tích điện) phụ thuộc vào độ sâu, vị trí và tính chất của khối u. Loại xạ trị phổ biến nhất là xạ trị bằng chùm tia ngoài (external-beam). Chùm tia sẽ được phát ra từ máy gia tốc tuyến tính (tia X hoặc electron) hoặc từ cyclotron (chùm proton) đến cơ thể. Chùm tia cũng có thể được phát ra từ trong cơ thể (brachytherapy) bằng việc sử dụng các ống phóng xạ và đưa vào cơ thể (4). Các tác dụng phụ của xạ trị bao gồm: mệt mỏi, phản ứng da nhẹ, đa bụng và tiêu chảy. Đa số các tác dụng phụ sẽ biến mất khi việc điều trị kết thúc.

Ngoài ba phương pháp chính nêu trên, việc điều trị ung thư còn được tiến hành bằng các phương pháp khác như: Boron Neutron Capture Therapy, Hyperthermia, liệu pháp miễn dịch…

Tài liệu tham khảo:

1. https://www.acco.org/us-childhood-cancer-statistics/
2. https://www.cancer.net/cancer-types/childhood-cancer/symptoms-and-signs
3. https://www.cancer.net/cancer-types/childhood-cancer/diagnosis
4. https://www.cancer.net/cancer-types/childhood-cancer/treatment-options
5. https://www.health.harvard.edu/cancer/chemotherapy